Đổi mới cơ cấu tài chính tại các doanh nghiệp may thuộc Vinatex theo hướng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

Đăng ngày : 22/06/2016 4:17:22 PM

ĐỔI MỚI CƠ CẤU TÀI CHÍNH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP MAY THUỘC VINATEX THEO

HƯỚNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ SXKD

Ts. Bùi Văn Vần và Ths. Nguyễn Văn Đức

Trường CĐCN – Dệt May Thời trang Hà Nội

Có một thực tế không thể phủ nhận là hiệu quả SXKD của các doanh nghiệp (DN) may Việt Nam còn rất hạn chế; tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (BEP) và tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh (ROA) ở hầu hết các DN May và DN may thuộc Vinatex nói riêng đều thấp. Tổng công ty May Việt Tiến, lá cờ đầu của ngành Dệt – May Việt Nam có mức đạt 2 chỉ tiêu này lần lượt là 11,3% và 8,8%. Tổng công ty May 10 – anh cả của các DN may phía bắc, thậm chí còn thê thảm hơn khi mức đạt của 2 chỉ tiêu này chỉ là 4,9%, thấp hơn nhiều so với lãi suất tiền vay ngân hàng…. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng này, song một nguyên nhân quan trọng đó là cơ cấu tài chính của các DN may Việt Nam chưa hợp lý, chưa có sự điều chỉnh cho phù hợp với những thay đổi của môi trường kinh doanh và tình hình cụ thể của các DN. Vì vậy, đổi mới cơ cấu tài chính sẽ là một trong những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả SXKD ở các doanh nghiệp này trong điều kiện hiện nay.

1.   Khái niệm và các chỉ tiêu đánh giá cơ cấu tài chính DN

Cơ cấu tài chính được hiểu là cơ cấu nguồn vốn mà DN huy động để tài trợ cho tài sản của DN mình. Cơ cấu tài chính được đo lường thông qua các chỉ tiêu như hệ số nợ (hay tỉ suất nợ), hệ số vốn chủ sở hữu (tỉ suất tự tài trợ) và tỉ suất nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu.

Ở đây cũng cần phân biệt thuật ngữ “cơ cấu vốn” và “cơ cấu tài chính” bởi giữa 2 thuật ngữ này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nhưng chúng có sự khác nhau về phạm vi đề cập. Cơ cấu vốn là cơ cấu các nguồn vốn có tính chất dài hạn của DN. Việc xem xét cơ cấu vốn có ý nghĩa đánh giá chính sách tài trợ của DN trong dài hạn, giúp nhà phân tích hiểu được các quyết định tài trợ (huy động vốn) dài hạn của DN có hợp lý không, có đảm bảo cơ cấu vốn tối ưu không. Vì vậy, nó rất thích hợp với các nước kinh tế thị trường phát triển.

Tuy nhiên, với các nước kinh tế thị trường chưa phát triển như ở Việt Nam, do nhiều lý do cả về vĩ mô và vi mô, vì vậy hầu hết các ngân hàng thương mại chủ yếu cho vay ngắn hạn, tỷ trọng cho vay dài hạn đối với các DN rất thấp. Phần lớn các DN Việt Nam hiện nay, trên bảng Cân đối kế toán không có chỉ tiêu nợ dài hạn hoặc tỷ trọng nợ dài hạn quá nhỏ trong tổng nguồn vốn của DN. Trong điều kiện đó, việc xem xét “cơ cấu tài chính” trở nên có ý nghĩa và thích hợp hơn, nó cho phép đánh giá sự linh hoạt trong việc tổ chức nguồn vốn của các DN.
* Các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu tài chính của DN :
           Hệ số nợ: 

 

Hệ số nợ = Tổng số nợ phải trả
Tổng nguồn vốn của DN

–           Hệ số vốn chủ sở hữu (tỷ suất tự tài trợ): 

Hệ số vốn chủ sở hữu =         Tổng số vốn chủ sở hữu      
Tổng nguồn vốn của DN

–           Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu: 

Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu =            Tổng số nợ phải trả          
Tổng số vốn chủ sở hữu

Bên cạnh chỉ tiêu tổng hợp kể trên, có thể xem xét thêm một số chỉ tiêu phân tích để đánh giá tỷ trọng từng loại nợ trong tổng số nợ của DN, như:

Hệ số nợ ngắn hạn =           Tổng số nợ ngắn hạn                        
Tổng số nợ phải trả của DN

 

Hệ số nợ dài hạn =             Tổng số nợ dài hạn         
Tổng số nợ phải trả của DN

 

Hệ số nợ vay =           Tổng số nợ vay       
Tổng số nợ phải trả của DN

 

Hệ số nợ chiếm dụng =         Tổng số nợ chiếm dụng      
Tổng số nợ phải trả của DN

Tương tự, có thể tính toán, xem xét các chỉ tiêu đánh giá xu hướng thay đổi trong việc huy động các nguồn vốn chủ sở hữu có liên quan tới việc duy trì hay chia sẻ quyền quản lý và kiểm soát DN của các chủ sở hữu hiện hành cho các chủ sở hữu mới của DN như:

Hệ số vốn góp =        Tổng số vốn góp    
Tổng số vốn CSH của DN

 

Hệ số vốn tự bổ sung =             Số vốn tự bổ sung           
Tổng số vốn CSH của DN

Có thể thấy rằng các hệ số phản ánh cơ cấu tài chính DN luôn luôn biến động, khác nhau giữa các DN hoạt động trong các ngành khác nhau, thậm chí ngay tại một DN nhưng cơ cấu tài chính của DN cũng không giống nhau qua các giai đoạn phát triển của nó.
2.   Đổi mới cơ cấu tài chính DN

2.1.     Khái niệm và sự cần thiết

Đổi mới cơ cấu tài chính (hay tái cơ cấu tài chính) là quá trình tổ chức, sắp xếp lại cơ cấu nguồn vốn kinh doanh của DN một cách tối ưu, nhằm đảm bảo sự phù hợp giữa cơ cấu tài sản và các nguồn tài trợ, thích ứng với sự biến động của môi trường kinh doanh, cũng như quá trình vận động, phát triển của DN.

Mục tiêu của đổi mới cơ cấu tài chính trong trung hạn và dài hạn là nhằm thiết lập lại cơ cấu nguồn vốn một cách vững chắc và lành mạnh nhằm cung cấp đủ vốn cổ phần và dòng tiền để tài trợ cho mục tiêu tăng trưởng bền vững trong tương lai của DN.

Mặc dù tái cơ cấu DN, cũng như tái cơ cấu tài chính DN thường được đề cập đến với tư cách là một giải pháp quan trọng trong trường hợp các công ty phải đối phó với khủng hoảng hoặc khó khăn có thể đe dọa đến sự tồn tại, đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế trên diện rộng. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan đòi hỏi DN phải thực hiện đổi mới cơ cấu tài chính; cụ thể là:

  • Do kinh doanh thua lỗ kéo dài.
  • Do DN duy trì tốc độ tăng trưởng quá
  • Do thay đổi, mở rộng ngành nghề kinh
  • Năng lực quản lý tài chính yếu, dẫn đến cơ cấu tài chính bất hợp lý.
  • Do sáp nhập, mua lại DN .
  • Do tác động của những yếu tố kinh tế khách quan .

2.2.     Nội dung đổi mới cơ cấu tài chính DN

Thứ nhất, Tái cơ cấu các khoản nợ phải trả.

Việc cơ cấu lại nợ có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, bao gồm những biện pháp giản đơn như đàm phán lại với các chủ nợ cũ nhằm giãn thời gian trả nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, xem xét miễn, giảm lãi suất, hoặc dàn xếp các khoản vay mới với những điều khoản thuận lợi hơn… Các công ty có thể thay đổi kỳ hạn nợ phải trả ngắn hạn thành nợ phải trả dài hạn thông qua các phương thức phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu DN hay hoán đổi nợ thành vốn góp cổ phần của DN chủ nợ.

Thứ hai, Tái cơ cấu vốn chủ sở hữu

Tái cơ cấu vốn chủ sở hữu là quá trình tổ chức lại quy mô và cơ cấu vốn chủ sở hữu. Quá trình này bao gồm cơ cấu lại vốn đầu tư của chủ sở hữu và các khoản lợi nhuận giữ lại. Đây là quá trình phức tạp vì có liên quan tới quyền kiểm soát của các chủ sở hữu hiện hành, cũng như các quy định trong điều lệ công ty. Công ty có thể thay đổi cơ cấu vốn chủ sở hữu có thể thực hiện dưới các hình thức: mua lại cổ phần thanh toán bằng tiền mặt; chuyển đổi vốn cổ phần thành cổ phần ưu đãi hoặc nợ vay; ghi giảm vốn cổ phần của cổ đông…

 

Bài viết liên quan: