Một số giải pháp nhằm huy động vốn cho chương trình sản xuất 1 tỷ mét vải xuất khẩu của Tập đoàn dệt may

Đăng ngày : 23/06/2016 8:49:12 AM

Thạc sỹ Nguyễn Văn Đức*

           Một trong những mục tiêu chiến lược của ngành dệt may Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 là sản xuất vải phục vụ xuất khẩu, trong đó Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) giữ vai trò nòng cốt. Để hoàn thành được mục tiêu này, giải pháp về vốn cho đầu tư nói chung và vốn cho đầu tư phát triển nói riêng giữ một vai trò hết sức quan trọng. Đánh giá đúng thực trạng huy động vốn sẽ giúp Vinatex xác định rõ những điểm mạnh và điểm yếu để từ đó có những giải pháp phù hợp theo từng giai đoạn. Bài viết này hướng tới mục tiêu đề xuất một số giải pháp tài chính nhằm huy động vốn cho chương trình sản xuất 1 tỷ mét vải xuất khẩu của Vinatex.

 1. Thực trạng nguồn vốn đầu tư phát triển ở Vinatex thời gian qua

     Các nguồn vốn huy động bên trong Tập đoàn

Thứ nhất, nguồn vốn chủ sở hữu của Vinatex được Nhà nước giao khi thành lập Tập đoàn.

Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) được thành lập theo Quyết định 316/2005/QĐ-TTg ngày 02/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ với số vốn điều lệ 2.444 tỷ đồng, bao gồm:

  • Vốn tại Văn phòng Tổng công ty: 408 tỷ đồng.
  • Vốn tại các doanh nghiệp thành viên: 035,8 tỷ đồng.

Thực chất, đây là nguồn vốn được hình thành trên cơ sở việc gộp nguồn vốn của văn phòng Tổng công ty với nguồn vốn của các công ty thành viên. Tổng hợp tình hình huy động và sử dụng vốn đầu tư của Vinatex giai đoạn 2005 – 2010 được thể hiện qua biểu 1:

Biểu 1Tổng hợp tình hình huy động và sử dụng vốn chủ sở hữu của Vinatex giai đoạn 2005 – 2010 (Đơn vị: Triệu đồng)

 

Năm Vốn chủ sở hữu của Cty MẹVinatex Vốn khả dụng
có thể dùng để đầu tư
Vốn đầu tư vào các

công ty thành viên

Số tiền Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng
2005 2.444.223 408.325 17% 2.035.898 83%
2006 2.578.235 810.361 31% 1.767.874 69%
2007 2.600.439 876.972 34% 1.723.467 66%
2008 3.293.537 1.392.992 42% 1.900.545 58%
2009 3.509.387 2.040.544 58% 1.468.843 42%
2010 4.352.000 2.883.157 66% 1.468.843 34%

Có thể thấy rằng: quy mô vốn chủ sở hữu của Công ty mẹ tăng qua các năm, nhưng vốn đầu tư vào các công ty thành viên có xu hướng giảm cả về số tuyệt đối lẫn tương đối. Ngược lại, vốn khả dụng có thể dùng để đầu tư liên tục tăng: cuối năm 2010 chiếm tới 66% trong nguồn vốn chủ sở hữu của Vinatex.

Thứ hai, nguồn vốn từ lợi nhuận sau thuế được chia từ kết quả kinh doanh của các công ty thành viên.

Nguồn lợi nhuận từ hoạt động đầu tư của Công ty mẹ Tập đoàn Dệt may trong thời gian vừa qua do việc chuyển đổi mô hình đang dần mang lại kết quả, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu tăng liên tục qua các năm. Đây sẽ là nguồn chủ yếu để tái đầu tư trong quá trình phát triển.

Biểu 2 –Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu giai đoạn 2006 – 2010 của Vinatex

CHỈ TIÊU 2006 2007 2008 2009 2010
Lợi nhuận sau thuế TNDN (tr.đ) 185.561 163.731 343,175 550.194 851.860
Vốn chủ sở hữu (tr.đ) 2.578.235 2.600.439 3,293,537 3.509.387 4.352.000
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (%) 7,20% 6,30% 10,42% 15,68% 19,57%

 

Thứ ba, nguồn vốn từ hoạt động đầu tư tài chính của Tập đoàn.

  • Các nguồn vốn huy động bên ngoài Tập đoàn

Nguồn vốn tín dụng là nguồn vốn quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư của Tập đoàn và các công ty thành viên. Trong thời gian qua Vinatex đã huy động vốn tín dụng từ các kênh chủ yếu sau:

Thứ nhất, vay từ các tổ chức tín dụng trong nước.

Nhằm đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư xây dựng các công trình, dự án, góp vốn liên doanh… Vinatex vay bằng nguồn vốn từ Quĩ Hỗ trợ phát triển (nay là Ngân hàng phát triển) và vay hỗ trợ lãi suất từ các ngân hàng thương mại từ các Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam để đầu tư các dự án như dự án 4 vạn cọc sợi tại Công ty CP Sợi Phú Bài (290 tỷ đồng), dự án Cụm Công nghiệp Hòa Khánh Đà Nẵng (870 tỷ đồng), Dự án Nhuộm Yên Mỹ (240 tỷ đồng) …

Biểu 3Tổng hợp vốn vay từ các tổ chức tín dụng giai đoạn 2006 – 2010

của Vinatex (Đơn vị: Tỷ đồng)

 

NỘI DUNG 2006 2007 2008 2009 2010
Vay và nợ ngắn hạn và dài hạn (số dư) 4.112 4.810 4.997 4.804 5.610

 

Nguồn vốn này có đặc điểm: thủ tục vay đơn giản, chi phí thấp, thuận lợi trong việc đàm phán, ký kết hợp đồng tín dụng, các điều kiện ràng buộc không khắt khe như việc vay vốn tại các ngân hàng nước ngoài. Tuy nhiên, hạn chế của nguồn vốn này là tính cam kết của các ngân hàng trong nước thường rất thấp, hệ thống kiểm soát của các ngân hàng trong nước thiếu chặt chẽ nên thường ảnh hưởng tới tiến độ, nhất là trong giai đoạn giải ngân thực hiện dự án.

Thứ hai, nguồn vốn vay ủy thác qua công ty Tài chính Dệt may.

Đây là một hình thức huy động vốn hiệu quả, phát huy vai trò thu xếp vốn của định chế tài chính, nó khắc phục được hạn chế cho vay theo qui định theo chế độ hiện hành. Tuy nhiên, việc vay vốn từ hình thức này chi phí vay vốn sẽ cao hơn.

Thứ ba, huy động nguồn vốn ODA.

Trong thời gian qua Vinatex thực hiện việc vay theo hình thức này cho việc xây dựng các dự án Xử lý nước thải bằng nguồn vốn ODA của Hà Lan khoảng 4 triệu EUR và một số dự án khác của các công ty thành viên cũng bằng các nguồn vốn hỗn hợp ODA. Tuy việc sử dụng nguồn vốn này có lãi suất thấp, nhưng phải thông qua Chính phủ đồng ý bảo lãnh tín dụng, nên phát sinh nhiều thủ tục phức tạp và mất nhiều thời gian, nên thường ít được sử dụng.

  • Đánh giá công tác huy động vốn của Vinatex thời gian vừa qua
  • Đánh giá chung

Về nguồn vốn huy động bên trong Tập đoàn: Các giải pháp đã thực hiện mang tính chiến lược lâu dài, đáp ứng yêu cầu chủ động tích tụ, tập trung vốn. Tuy nhiên, việc sử dụng vốn của các doanh nghiệp thành viên Vinatex còn nhiều hạn chế, hàng hóa tồn kho cao, công nợ bị chiếm dụng dài dẫn đến nhiều rủi ro trong hoạt động

Đối với nguồn vốn huy động bên ngoài Tập đoàn: Trong thời gian qua, Vinatex tập trung nguồn lực để chuyển đổi sở hữu và xây dựng mô hình, thành lập các ban quản lý để chuẩn bị đầu tư, nên việc huy động vốn vay chưa được chú trọng. Nguồn vốn vay của Vinatex chủ yếu dựa vào các ngân hàng trong nước và vay ngắn hạn từ nguồn vốn hỗ trợ của Chính phủ với lãi suất thấp, việc vay vốn từ các ngân hàng nước ngoài hầu như chưa thực hiện. Việc huy động vốn qua các tổ chức tín dụng của Vinatex còn bộc lộ một số hạn chế:

Thứ nhất, vinatex chưa có một chính sách chung mang tính tổng thể trong toàn hệ thống để giao dịch với các ngân hàng, dẫn đến bị hạn chế về việc vay và bị ép về lãi suất.

Thứ hai, công ty Mẹ chưa thực hiện được vai trò là cầu nối giữa doanh nghiệp thành viên với các định chế tài chính, dẫn đến phân tán các đơn vị thành viên trong việc đàm phán với các tổ chức tín dụng trong toàn hệ thống, ngược lại ngân hàng và các chi nhánh liên hệ hết sức chặt chẽ trong toàn hệ thống.

Thứ ba, một hạn chế hết sức cơ bản đó là tính đặc thù của ngành nghề sử dụng nhiều lao động, hiệu quả không cao dẫn đến không thực sự hấp dẫn đối với các tổ chức tín dụng.

Tóm lại, các giải pháp huy động vốn của Vinatex trong thời gian qua có những bước đi phù hợp với bối cảnh nền kinh tế cũng như xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế để trở thành một tập đoàn đa sở hữu.

  1. Mục tiêu xuất khẩu 1 tỷ mét vải và chiến lược huy động vốn
    • Mục tiêu chương trình sản xuất 1 tỷ mét vải phục vụ xuất khẩu

Tập trung phát triển vải dệt thoi phục vụ xuất khẩu nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường theo hướng tăng hiệu quả kinh tế, phát triển bền vững, nâng cao chất lượng sản phẩm, phấn đấu đến năm 2015 sản xuất được 1,5 tỷ m2 vải; trong đó có 1 tỷ m2 vải cho xuất khẩu và phục vụ xuất khẩu.

Biểu 4 – Mục tiêu sản xuất vải dệt thoi phục vụ xuất khẩu đến năm 2015.

Chỉ tiêu Đơn vị Thực hiện

2008

Mục tiêu đến
2010 2015
Nhu cầu vải dệt thoi Triệu m2 1.860 3.500 4.600
Sản xuất vải dệt thoi Triệu m2 610,7 1.000 1.500
Vải phục vụ xuất khẩu Triệu m2 155 500 1.000

Để thực hiện được chương trình này theo mục tiêu đã đề ra, đòi hỏi phải có lượng vốn đầu tư tương ứng. Nhu cầu vốn đầu tư của chương trình sản xuất dệt thoi phục vụ xuất khẩu đến năm 2015 được thể hiện qua biểu sau:

 Biểu 5 – Nhu cầu vốn đầu tư  của chương trình sản xuất vải dệt thoi  phục vụ xuất khẩu ngành Dệt may đến năm 2015

Danh mục dự án Số lượng đầu tư

đến 2015

Suất đầu tư

(triệu USD)

Vốn đầu tư
(triệu USD)
1.Khu CN dệt nhuộm 8 khu CN 352 2.816
2.Các chương trình hỗ trợ khác:     368,1
– Nhà máy sản xuất xơ PES 1 nhà máy 324 324
– Trường Đại học Dệt may 1 trường 12.5 12,5
-Trung tâm mẫu 1 trung tâm 6 6
-Trung tâm nguyên phụ liệu 2 trung tâm 9 18
-Nghiên cứu triển khai 3,6
-Xúc tiến thương mại 4
Tổng cộng     3.184,1

 

Quy mô vốn cần huy động cho đầu tư phát triển của Vinatex đến 2015 là rất lớn, vì vậy đòi hỏi phải có các giải pháp thích hợp và hiệu quả mới đáp ứng cho nhu cầu đầu tư phát triển của Vinatex một cách đầy đủ và kịp thời.

  1. Một số giải pháp huy động vốn nhằm thực hiện chương trình sản xuất 1 tỷ mét vải phục vụ xuất khẩu của Vinatex

3.1. Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn sẵn có của Tập đoàn

Nguồn vốn huy động trong nội bộ Tập đoàn mang tính quyết định đối với việc thực hiện thành công chiến lược phát triển của Vinatex, nó không những tạo ra sức mạnh tổng hợp về tài chính toàn ngành, mà còn là tiền đề cho các khoản vốn huy động từ bên ngoài. Để đảm bảo mục tiêu huy động các nguồn lực trong nội bộ, Vinatex cần phải thực hiện các biện pháp sau:

Một là, giám sát và đảm bảo việc hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh, thực hiện đúng tiến độ các dự án đầu tư, thực hành tiết kiệm, đầu tư trọng tâm trọng đỉểm đúng chuyên ngành.

Hai là, sắp xếp lại tổ chức hoạt động của công ty Tài chính Dệt may, sử dụng công ty Tài chính Dệt may thực hiện việc tập trung nguồn tiền nhàn rỗi từ Tập đoàn và các công ty con, thực thi cơ chế tín dụng trong nội bộ tập đoàn để sử dụng hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi của Tập đoàn.

Ba là, có lộ trình niêm yết các công ty đã cổ phần lên thị trường chứng khoán tập trung nhằm huy động vốn đầu tư dài hạn qua thị trường tài chính .

Bốn là, cần cơ cấu lại toàn bộ tài sản và nguồn vốn của từng công ty thành viên trong Tập đoàn để xác định mức độ hợp lý của đòn cân nợ, làm cơ sở tăng vốn điều lệ thông qua hình thức phát hành cổ phiếu.

Năm là, cấu trúc lại mô hình tổ chức công tác tài chính kế toán của toàn tập đoàn, đặc biệt là công ty mẹ tập đoàn, trẻ hoá đội ngũ cán bộ quản lý.

3.2. Đa dạng hoá các kênh huy động vốn từ bên ngoài Tập đoàn

Thứ nhất, Đẩy mạnh việc huy động qua ngân hàng và các tổ chức tín dụng.

Đây là kênh huy động vốn truyền thống đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thoả mãn nhu cầu vốn đầu tư phát triển đối với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung, và các tập đoàn kinh tế nhà nước nói riêng. Tuy nhiên, việc huy động nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng còn bị hạn chế bởi hạn mức tín dụng theo qui định của từng ngân hàng và những quy định ràng buộc của Ngân hàng Nhà nước trong giai đoạn suy thoái hiện nay. Vì vậy, cần phối hợp các hình thức huy động vốn của các ngân hàng trong nước và các ngân hàng nước ngoài, phối hợp nguồn vốn của các ngân hàng để tài trợ cho các dự án qui mô lớn.

Thứ hai, vay tín dụng xuất khẩu (ECA).

Là hình thức tín dụng được sử dụng khá phổ biến đối với việc thu xếp vốn cho các dự án lớn của Tập đoàn. Ưu điểm của loại hình này là thu xếp được một lượng vốn lớn, thời gian vay dài, chi phí vay hợp lý và có khả năng cố định lãi suất tại thời điểm lãi suất hợp lý cho dự án. Nhược điểm của hình thức này là gắn liền với sự thu xếp của nhà thầu cung cấp thiết bị nhập khẩu.

Thứ ba, huy động vốn thông qua thuê tài chính.

Thuê tài chính là hình thức giúp các doanh nghiệp thiếu vốn vẫn có đủ tài sản hoạt động phục vụ sản xuất kinh doanh. Hình thức này có ưu thế đối với các doanh nghiệp thuộc tập đoàn Dệt may Việt Nam, chi phí thuê tài chính có thể cao hơn so với hình thức mua ngay, nhưng giải quyết được cơ bản bài toán thiếu vốn.

  • Thứ tư, huy động vốn thông qua hình thức tài trợ dự án.

Tài trợ dự án là hình thức các tổ chức tài chính cho vay vốn để đầu tư vào dự án mà không cần bảo lãnh hoặc tài sản thế chấp. Theo hình thức nay, thì dự án phải thực sự khả thi, thị trường phải rõ ràng và khi tiến hành thẩm định dự án, người vay phải cung cấp toàn bộ báo cáo khả thi, các hợp đồng bao tiêu đầu vào và đầu ra của dự án.

  • Thứ năm, huy động vốn trực tiếp đầu tư nước ngoài.

Trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay, đặc biệt trong lĩnh vực nhuộm đòi hỏi một lượng vốn đầu tư lớn, cần thiết phải huy động các nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài; qua đó vừa thu hút được nguồn vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại của nước ngoài để phát triển ngành, vừa góp phần đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành dệt may trong nước.

  • Thứ sáu, huy động vốn bằng hình thức phát hành trái phiếu doanh nghiệp.

Để phát triển Vinatex thành một tập đoàn đa ngành và làm hạt nhân trung tâm lãnh đạo các doanh nghiệp Dệt may đòi hỏi phải có một lượng vốn lớn đủ để đầu tư phát triển, do vậy cần phải đa dạng hoá các hình thức huy động vốn. Một trong những hình thức huy động mang tính khả thi đó là phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Với kênh huy động vốn này, Tập đoàn có khả năng thu hút một lượng vốn lớn từ trong và ngoài nước, đồng thời qua đó tăng cường quảng bá hình ảnh của tập đoàn.

Biểu 6Phương án tài trợ cho chương trình sản xuất vải phục vụ xuất khẩu của Vinatex đến 2015

TT Phương án nguồn vốn tài trợ Quy mô (tr USD) Tỷ trọng
1 Nguồn vốn chủ sở hữu 636,820 20%
2 Đầu tư trực tiếp và hợp tác góp vốn 477,615 15%
3 Nguồn vốn từ phát hành trái phiếu 318,41 10%
4 Nguồn vốn vay trong nước 318,41 10%
5 Nguồn vốn vay nước ngoài 955,23 30%
6 Nguồn vốn vay từ ngân hàng phát triển 159,205 5%
7 Nguồn vốn vay từ ngân sách cấp kinh phí 159,205 5%
8 Thuê tài chính 159,205 5%
Cộng nguồn   3.184,10 100%

 

Vốn là chìa khoá, là điều kiện hàng đầu của mọi quá trình phát triển. Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn duy trì và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần phải có một lượng vốn nhất định, lượng vốn đó luôn phải được vận động và tăng trưởng không ngừng. Đặc biệt đối với Vinatex, vốn đầu tư và phát triển được coi là khâu then chốt để thực hiện các chương trình phát triển nói chung và chương trình sản xuất 1 tỷ mét vải phục vụ xuất khẩu nói riêng. Do vậy, điều hết sức quan trọng là phải tìm mọi giải pháp để tổ chức huy động một khối lượng vốn lớn, đáp ứng kịp thời cho nhu cầu đầu tư phát triển. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn tình hình huy động vốn của Vinatex tác giả đề xuất một số giải pháp tài chính nhằm huy động đầy đủ và kịp thời vốn cho chương trình sản xuất 1 tỷ mét vải phục vụ xuất khẩu của Vinatex.

———————————————————————————

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1- Bộ Công thương (2008), Quyết định số 39/2008/QĐ-BCT về việc phê duyệt Chương trình đào tạo nguồn nhân lực ngành Dệt May Việt Nam đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020, Hà Nội. 

2- Chính phủ (2008), Quyết định số 36/2008/QĐ-TTg về việc phê duyệt chiến lược phát triển ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, Hà Nội.

3- Tập đoàn Dệt May Việt Nam (2011), Quy hoạch định hướng đầu tư Dệt May đến năm 2020, Hà Nội.

 

Bài viết liên quan: